Vấn đề phát triển con người Việt Nam
(c)Coppyright by Coder
VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI VIỆT NAM
Trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, vai trò của con
người với từ cách là người lao động – người sản xuất lớn lao. Ở mỗi nước ngoài
sự quan tâm đến sức lao động thì việc nâng cao về chất lượng, tiềm năng của con
người, nhằm làm tạo ra nguồn lao động có chất lượng cao, có năng suất cao hơn
là rất quan trọng. Chất lượng lao động có thể được nâng cao nhờ giáo dục cả trẻ
em và người lớn, nhờ chăm sóc sức khỏe tốt và sự nuôi dưỡng đối với trẻ em và
người lao động… Chính vì vậy nhiều nước coi việc đầu tư vào tư bản con người
quan trọng như đầu tư về sức lực. Sự phát triển tiềm năng của con người và phát
triển kinh tế xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và ảnh hưởng đến nhau.
Với vai trò quan trọng của con người, cơ quan Báo cáo phát triển con người của
chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã nghiên cứu và đưa ra chỉ số
phát triển con người (HDI).
HDI là thước đo tổng hợp về sự
phát triển của con người, phản ánh mức độ đạt được những khát vọng
chung của họ. Đó là sức khỏe dồi dào, có tri thức và mức thu nhập
cao.
Để xác định chỉ số HDI trước
đây người ta chỉ căn cứ vào chỉ tiêu mức sống của con người. Như vậy
những nước có thu nhập bình quân cao, mức sống cao đương nhiên có chỉ
số HDI cao. Tuy nhiên, thực tế chỉ ra rằng, không phải nước nào có thu
nhập lớn thì trình độ dân trí đều cao và đều chú ý chăm lo sức
khỏe, phúc lợi xã hội cho con người. Ngược lại, nhiều nước có thu
nhập bình quân thấp, mức sống chưa cao nhưng rất quan tâm tới mục tiêu
giáo dục, y tế và chăm sóc sức khỏe cho mọi thành viên. Chính vì
vậy hiện nay cơ quan báo cáo phát triển con người của chương trình
phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) đã lựa chọn đưa ra 3 chỉ số liên quan
đến sự phát triển con người để đánh giá
HDI, đó là: Tuổi thọ, giáo dục, mức sống.
Tuổi thọ trung bình là một cuộc
sống dài lâu khỏe mạnh.
Trình độ giáo dục của dân cư
được đo bắng tỉ lệ người lớn biết chữ với trọng số 2/3 và tỉ lệ
nhập học các cấp với trọng số 1/3.

Mức sống của con người được đo
bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người và điều chỉnh
theo phương pháp sức mua tương đương (PPP), tính bằng đôla Mĩ (USD).
Như vậy HDI là thước đo tổng hợp
so với các chỉ tiêu khác. Thu nhập và thu nhập bình quân chỉ là
phương tiện để có sự phát triển con người; còn các chỉ tiêu phán
ánh nhu cầu cơ bản của con người lại chỉ phản ánh từng mặt cụ thể.
Do vậy từ năm 1990, báo cáo phát triển con người đã sử dụng chỉ tiêu
này để thực hiện việc xếp hạng các nước theo tình trạng phát triển
con người.
Nhờ
chính sách và sự quan tâm tới phát triển con người của Đảng và Nhà nước, các
chỉ số con người ở nước ta có sự tiến bộ rõ rệt, với đặc điểm nổi bật là các
chỉ số về mặt xã hội cao hơn chỉ số phát triển kinh tế.
Thành tựu phát triển
con người (HDI) của Việt Nam
1995 – 2005
|
Chỉ số
|
1995
|
2000
|
2005
|
|
Tuổi thọ trung bình
|
65,2
|
67,8
|
73,7
|
|
Tỉ lệ người lớn biết chữ
|
91,9
|
92,0
|
90,3
|
|
Tỉ lệ nhập học các cấp
|
49,0
|
63,0
|
63,9
|
|
GDP/người theo PPP
|
1.010
|
1.860
|
3.071
|
|
Chỉ số phát triển con người
|
0,611
|
0,671
|
0,733
|
|
Xếp hạng HDI
|
121/174
|
108/177
|
105/177
|
Nguồn : HDR và VnExprees
Giá
trị HDI và thứ hạng về HDI của nước ta trong các nước và vùng lãnh thổ tăng
liên tục từ chỉ số 0,582 năm 1985 lên 0,603 năm 1990, rồi 0,611 năm 1995, 0,671
năm 200 và năm 2005. Theo cồn bố năm 2007 mới đây của UNDP đã tăng lên 0,733.
Việt Nam đã đạt và chắc chắn sẽ vượt mục tiêu 0,7 – 0,75 do Chính phủ đề ra cho
năm 2010 trong chiến lược phát triển dân số 2001 – 2010.
Xếp
hạng HDI của Việt Nam
trong các nước và vùng lãnh thổ liên tục tăng lên. Từ năm 1995 đến năm 2005,
trong khu vực Đông Nam Á, thứ hạng HDI của nước ta đã tăng từ thứ 7 lên thứ 6
(vượt qua Indonesia); ở châu Á đã tăng từ thứ 32 lên 28, trên thế giới đã tăng
từ thứ 121 lên 105 trong tổng số 177 nước và vùng lãnh thổ có số liệu so sánh.
Năm 2005 đã tăng 3 bậc so với năm 2000, mức tăng cao nhất trong khu vực. HDI
của Việt Nam
cao hơn mức trung bình 0,691 của các nước đang phát triển.
Xếp
hạng của Việt Nam
về HDI đã cao hơn xếp hạng về GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá
sức mua tương đương. Trong khu vực Đông Nam Á là thứ 6 so với thứ 7; ở châu Á
là thứ 28 so với 36; trên thế giới là thứ 105 so với 123.
Chính
vì thế, Việt Nam
đã được quốc tế đánh giá cao, được coi là một ví dụ thành công tiêu biểu cho
nhóm các nước đang phát triển về khả năng tương tác cân băng giữa phát triển
kinh tế và phát triển con người. Điều đó chứng tỏ, tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam
đã hướng vào sự phát triển con
HDI của các nước Đông Nam Á
năm 2005
|
Tên nước
|
HDI
|
Thứ hạng
trên TG
|
Tuổi thọ
TB
|
Tỉ lệ
người lớn biết chữ
|
Tỉ lệ
nhập học các cấp
|
GDP bình
quân theo PP
|
|
1. Xingapo
|
0,922
|
25
|
79,4
|
92,5
|
87,3
|
29.663
|
|
2. Brunây
|
0,894
|
30
|
76,7
|
92,7
|
77,7
|
28.161
|
|
3. Malaysia
|
0,811
|
63
|
73,7
|
88,7
|
74,3
|
10.882
|
|
4. Thái Lan
|
0,781
|
78
|
69,6
|
92,6
|
71,2
|
8.677
|
|
5. Philippin
|
0,771
|
90
|
71,0
|
92,6
|
81,1
|
5.173
|
|
6. Việt Nam
|
0,733
|
105
|
73,7
|
90,3
|
63,9
|
3.071
|
|
7. Inđônêsia
|
0,728
|
107
|
69,7
|
90,4
|
68,2
|
3.843
|
|
8. Lào
|
0,601
|
130
|
63,2
|
68,7
|
61,5
|
2.039
|
|
9. Cămpuchia
|
0,598
|
131
|
58,0
|
73,6
|
60,0
|
2.727
|
|
10.Mianma
|
0,583
|
132
|
60,8
|
89,9
|
49,5
|
1.027
|
|
11. Đông Timo
|
0,514
|
150
|
59,7
|
50,1
|
72,0
|
….
|
Nguồn: Human Development Resport,
2007
người – vừa là chủ thể, vừa là mục
tiêu, vừa là động lực của tăng trưởng kinh tế phù hợp với định hướng xã hội chủ
nghĩa của nền kinh tế thị trường ở nước ta.
Ở
nước ta, sự chênh lệch giữa các vùng về chỉ số HDI thấp hơn so với sự chênh
lệch về GDP bình quân đầu người và thu nhập bình quân đầu người. Lý do chủ yếu
là do tuổi thọ trung bình, tỉ lệ người lớn biết chữ và tỉ lệ nhập học các cấp ở
các vùng không có sự khác biệt quá lớn.
HDI và thứ hạng HDI
theo vùng
|
Vùng
|
GDP/người
(triệu đồng)
|
Thu nhập
bình quân người (triệu đồng)
|
Chỉ số
HDI
|
Xếp hạng
các vùng về
|
|
GDP/ người
|
Thu nhập
BQĐN
|
HDI
|
|
Cả nước
|
10,1
|
5,5
|
0,709
|
-
|
-
|
-
|
|
Đồng bằng
sông Hồng
|
9,0
|
6,3
|
0,733
|
2
|
2
|
8
|
|
Đông Bắc
|
5,0
|
4,6
|
0,645
|
7
|
6
|
6
|
|
Tây Bắc
|
4,5
|
3,2
|
0,570
|
8
|
8
|
8
|
|
Bắc Trung
Bộ
|
5,9
|
3,8
|
0,665
|
6
|
7
|
5
|
|
Duyên hải
Nam Trung Bộ
|
6,2
|
5,0
|
0,680
|
5
|
4
|
3
|
|
Tây
Nguyên
|
6,7
|
4,7
|
0,614
|
4
|
5
|
7
|
|
Đông Nam
Bộ
|
24,3
|
10,0
|
0,761
|
1
|
1
|
1
|
|
Đồng bằng
sông Cửu Long
|
8,7
|
5,7
|
0,677
|
3
|
3
|
4
|
Nguồn: Số liệu báo cáo 2003
Bên cạnh những thành tựu cơ bản và to
lớn đã đạt được về chỉ số HDI, nước ta vẫn còn những tồn tại và thách thức nhất
định, ảnh hưởng đến từng chỉ sổ HDI riêng biệt, giá trị HDI tổng hợp và chất
lượng cuộc sống dân cư nói chung.
Thứ
bậc HDI của Việt Nam
trên thế giới, ở châu Á và trong khu vực vẫn còn ở mức thấp. HDI của Việt Nam
còn thấp hơn mức trung bình 0,743 của thế giới, mức 0,768 của các nước châu Á –
Thái Bình Dương và tất nhiên thấp hơn nhiều mức trung bình 0,947 của các nước
phát triển.
Việt
Nam vẫn là một nước có mức thu nhập thấp, GDP bình quân đầu người thực tế đạt
638USD, theo PPP đạt 3071USD mới chỉ bằng 1/3 mức bình quân thế giới; chưa băng
mức trung bình của các nước đang phát triển và bằng 1/11 của các nước phát
triển. Đây cũng chính là một trong những yếu tố làm cho HDI của Việt Nam
còn ở mức thấp.
Để tải tài liệu vui lòng nhấn vào "Downloads"..